Ưu thế của bình chữa cháy bột khô
1. Dập tắt nhanh
− Chỉ sau khoảng 5-10s khi bóp cò bình bột khô trong bình chữa cháy sẽ nhanh chóng phun ra chính xác và nhanh chóng dập tắt đám cháy.
− Nguyên lý chữa cháy đơn giản: Lớp bột sẽ phủ nhanh xung quanh đám cháy tạo một lớp tách biệt đám cháy với Oxi đồng thời tạo CO2 hút O2 duy trì sự cháy.

2. Không dẫn điện
– Bình chữa cháy bột khô là thiết bị PCCC có thể được dùng một cách an toàn trong những sự cố khi biết hoặc nghi ngờ có vật dụng điện và với nguồn điện đang hoạt động.
− Nó không dẫn điện nên người dùng hoàn toàn yên tâm lúc nghi ngờ còn với điện hoạt động trong đám cháy

3. Sử dụng tốt cho đám cháy chất lỏng
– Nó vô cùng hiệu quả khi sử dụng để chữa cháy là nhiên liệu. Phủ lên bề mặt nhiên liệu như dầu, nhớt, xăng và ngắt tiếp xúc với oxy và đám cháy bị dập tắt.
4. Không tạo ra sốc nhiệt
– Vì việc ứng dụng bột khô lên kim loại nóng sẽ không gây ra hiện tượng sốc nhiệt
– Một số chất bị cháy đang nóng mà gặp lạnh sẽ hư hại ngay thì bột chữa cháy sẽ đảm bảo giảm nhiệt chậm và an toàn hơn
5. Lá chắn nhiệt tốt
– Việc xả bột khô tạo hình thành 1 lớp bảo vệ chống lại bức xạ nhiệt. Trong trường hợp xả một lượng lớn bột, nó có khả năng che chăn khỏi tác hại của đám cháy.
6. Phạm vi sử dụng rộng
– Nó thông dụng, dễ dùng hơn bất cứ bình chữa cháy nào hiện nay. Phạm vi sử dụng lên đến 4-6m cho dù là bình nhỏ như MFZ4

Nhược điểm của bình chữa cháy bột khô
1. Giảm khả năng quan sát
– Bình chữa cháy bột khô tạo ra đám mây bột dày đặc sẽ làm cho giảm đáng kể tầm nhìn của người chữa cháy.
2. Bột khô có thể gây khó thở
– Nếu như hít phải bột khô, nó có thể gây kích ứng các cơ quan hô hấp.
– Hãy chú ý bằng cách chọn hướng gió chữa cháy cho phù hợp!
3. Để lại dư lượng tồn sau khi dùng
– Bột khô là 1 chất chữa cháy rất lộn xộn sẽ để lại dư lượng ăn mòn

Cách sử dụng & vị trí đặt bình chữa cháy bột khô
– Không được sử dụng trên các đám cháy lớp D, F bình chữa cháy bột khô chỉ nên sử dụng trong môi trường công nghiệp và nơi không với công cụ chữa cháy thay thế phù hợp.
♦ Đối với cái xách tay:
− Khi có cháy xảy ra, xách bình tới sắp địa điểm cháy.
− Lắc xóc bình trong khoảng 3-4 lần để bột tơi, giật chốt hãm kẹp chì, chọn đầu hướng gió hướng loa phun vào gốc lửa.
− Giữ bình ở khoảng bí quyết 1,5m tuỳ cái bình, bóp van bình để bột chữa cháy phun ra, khi khí yếu thì tiến lại sắp và đưa loa phun qua lại để dập tắt hoàn toàn đám cháy.

♦ Đối có bình xe đẩy:
− Đẩy xe đến chỗ sở hữu hỏa hoạn, kéo vòi rulo dẫn bột ra, hướng lăng phun bột vào gốc lửa.
− Giật chốt an toàn (kẹp chì), kéo van chính trên mồm bình vuông góc có mặt đất.
− Cầm chặt lăng phun chọn thuận chiều gió và bóp cò, bột sẽ được phun ra.

Lưu ý:
Lúc mở van (tuỳ từng loại bình có cấu tạo van khoá khác nhau thì cách mở khác nhau), bột khô trong bình được phun ra ngoài nhờ lực đẩy của khí nén (nén trực tiếp với bột hoặc trong chai riêng) qua hệ thống ống dẫn.
Khi phun vào đám cháy bột mang tác dụng kìm hãm phản ứng cháy và cách thức ly chất cháy sở hữu ôxy không khí, mặt khác ngăn cản khá khí cháy tiến vào vùng cháy dẫn tới đám cháy bị dập tắt.
Bình chữa cháy bột khô dập tắt đám cháy như thế nào ?
Loại bỏ bất kỳ cạnh nào của tam giác và lửa để đám cháy ngưng hoạt động. Bột khô ABC dập tắt đám cháy dòng A bằng cách tạo lớp vỏ kín trên vật liệu đang cháy do vậy mẫu bỏ oxy khỏi tam giác đốt. Tạo ra 1 lớp ngăn giữa nguyên liệu cháy và không khí và đám cháy sẽ ngừng lại.
Đám cháy loại A
– Là các chất được xác định là chất rắn dễ cháy, như gỗ, giấy, lá, thảm, vải và 1 số chất dẻo.
– Gần như các chất rắn trong khoảng đám cháy loại A này chủ yếu xảy ra một cách đột ngột. Những chất này thường cháy từ sự hình thành của than hồng, bởi thế phải dùng chất chữa cháy không chỉ chống lại ngọn lửa mà còn làm dịu những chất cháy. Với nguyên nhân này, sử dụng nước hoặc bình chữa cháy bọt hoặc bột đều rất hiệu quả.
Đám cháy loại B
– Là các chất được định nghĩa là chất lỏng dễ cháy, như dung môi, dầu hỏa, một số loại dầu và chất rắn hóa lỏng như đánh bóng, sáp và 1 số chất dẻo.
– Bình chữa cháy phun bọt, bình chữa cháy CO2 hoặc bình chữa cháy bột- với đám cháy loại B bao gồm tất cả những chất lỏng, chất dễ cháy và các chất trở nên chất lỏng do ảnh hưởng của nhiệt.
Những chất lỏng như xăng, dầu, chất béo, sơn, vecni và rượu. Các chất tan chảy và trở thành chất lỏng lúc đun nóng ví dụ: nhựa như PVC, sáp, nhựa tuyến đường, nhựa và phổ quát cái nhựa.

– Các đám cháy loại B chỉ gây cháy bằng ngọn lửa và không tạo ra than hồng. Những chất được đề cập phải được thực hiện để đảm bảo rằng chúng không bao giờ bị dập tắt trong trường hợp hỏa thiến có nước! Nước sẽ bay tương đối và do chất lỏng đang cháy, sẽ gây nổ.
– Những chất cháy thuộc loại B bị khiến mờ bởi chất chữa cháy. Với mục đích này, có thể dùng chăn chữa cháy hoặc bình chữa cháy bọt, bình chữa cháy ABC, bình chữa cháy bằng bột BC và bình chữa cháy CO2 (carbon dioxide).
Đám cháy loại C
– Đám cháy này phần lớn là các dòng khí dễ cháy như propan, LPG, khí tự nhiên, metan, khí thị thành, butan, ethyne (acetylene) và hydro.
– Cách tốt nhất để dập tắt đám cháy mẫu C là khóa ga trong bước đầu tiên, có nguy cơ nổ. Nó không sản xuất than hồng mà cháy bằng lửa. Nếu trường hợp đám cháy da ga thì không hể dập tắt bằng nước, bọt hoặc carbon dioxide (CO2) và do vậy hoàn toàn không thể sử dụng làm chất chữa cháy.
– Sử dụng bình chữa cháy có bột ABC và bột BC. Thường xuyên thực hiện tập huấn cho mọi người.
Đám cháy loại D
– Đám cháy mẫu D bao gồm các kim khí dễ cháy như nhôm, kim loại, magiê.
– Bình chữa cháy bột thích hợp với đám cháy dòng D, còn được gọi là bình chữa cháy kim loại. Đám cháy chiếc D rất hiếm trong cuộc sống hàng ngày. Vì chúng xuất hiện từ những kim loại dễ cháy như Nhôm, magiê, natri, kali hoặc lithium. Các kim khí này chỉ cháy ở nhiệt độ rất cao trên 1000° C và được coi là rất khó để dập tắt.

– Những đám cháy kim loại được xếp dòng là dòng D. Các đám cháy này không bao giờ được dập tắt bằng nước, vì nước sẽ phân tích thành tương đối nước và oxy ở nhiệt độ cao, dẫn đến sự hình thành khí oxyhydrogen với nguy cơ nổ cao.
– Chất chữa cháy dành riêng cho đám cháy mẫu D là bột nung kim loại đặc biệt, bột xi măng khô hoặc rác khô, cát khô, hoặc muối thức ăn gia súc.
Đám cháy loại E
– Là những đám cháy được định nghĩa là liên quan tới thiết bị điện. Điện không cháy nên lửa được gây ra bởi các thứ như cách thức điện dây hoặc đốt PCB.
– Đây là đám cháy điện. Lưu ý: Đám cháy E đã bị hủy vì điện có thể là nguyên nhân gây ra hỏa hoạn. Ví dụ, máy tính bị chập cháy do chập điện. Đây đám cháy cái A chứ không phải chiếc E, lý do để bàn luận ở đây vì mục đích tri thức cho người mới bắt đầu.
Đám cháy cái F
– Đám cháy loại F bao gồm những đám cháy trong từ chất béo của thực phẩm và dầu ăn được sử dụng trong chế biến món ăn hàng ngày. Do mối nghiêm trọng lớn, đám cháy cái F đã được đưa vào phân cái tiêu chuẩn Châu Âu EN hai năm 2005.
– Nó mau chóng xảy ra lúc chảo chiên có dầu ăn nóng bị quên trên bếp trong thời gian dài. Đối với chất béo thực phẩm quá nóng và dầu ăn, với nguy cơ cháy cao, thường dẫn đến chấn thương nghiêm trọng.

– Đám cháy từ chất béo không thể sử dụng nước để dập tắt vì nước nhẹ hơn chất béo. Trong một thí điểm dập tắt bằng nước, nước dập tắt sẽ mau chóng chìm trong chất béo đang cháy và bốc khá. Hơi nước thu được sẽ bỗng nhiên bắn lên và xé tan lớp mỡ nóng, tạo ra 1 ngọn lửa phản lực.
– Căn cứ vào tình trạng của chất cháy để phân dòng đám cháy và dùng cách chữa cháy phù hợp. Hạn chế đến mức tối đa những trường hợp nguy hiểm khác, đặc thù là gây nổ.
Cảm ơn quý khách hàng!






